San lắp mặt bằng gì là? Các dạng san lắp mặt bằng

San lấp mặt là công việc san phẳng cho công trình xây dựng hay mặt bằng quy hoạch để tạo thành khu đất bằng phẳng. Hiện nay, dịch vụ san lấp mặt bằng cũng khá phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng khác nhau. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa hiểu hết về dịch vụ này. Bài viết dưới đây chúng tôi sẽ giúp bạn tìm hiểu kỹ hơn về dịch vụ san lấp mặt bằng nhé!


1. San lấp mặt bằng là gì?


San lấp mặt bằng có thể hiểu đơn giản là việc đào những chỗ đất cao trong nội tại vùng đất đó vận chuyển đến các vùng thấp nhất và đắp vào đó, nhằm làm phẳng lại bề mặt địa hình vùng đất đó theo chủ định trước của con người. Vì vậy, mục đích của việc san lấp mặt bằng là bao gồm các công tác đào đất, vận chuyển đất và đắp đất.


Trong công tác san đất, đầu tiên đất thi công chỉ yếu được lấy ngay bên trong phạm vi công trường. Lượng đất thừa hay thiếu phải liên hệ với bên ngoài phạm vi công trường, thường chỉ là nguồn bổ trợ hay chỉ chiếm khối lượng nhỏ, hoặc thậm chi không có.

 

2. Các dạng san lấp mặt bằng


Dựa vào đặc điều và điều kiện san lấp mặt bằng người ta chia thành 2 dạng sau:


+ San theo điều kiện khống chế trước cốt cao độ mặt phẳng sau san, mà không cần chú ý nhiều đến khối lượng đất thừa hay thiếu.


+ San theo yêu cầu về khối lượng đất khi san, bao gồm các trường hợp san cân bằng khối lượng đào với đắp, san với điều kiện chủ định chừa ra một khối khối lượng đất sau san hoặc cố ý bổ sung thêm một lượng đất trước san.


 

3. Các bước quan trọng trong san lấp mặt bằng


a. Thiết kế mặt bằng san lấp


Trước tiên, bạn cần phải có bản đồ địa hình có thể trực tiếp cho biết khái quát về độ cao của mặt đất tự nhiên trong vùng địa hình, qua các đường đồng mức trong địa hình. Tuy nhiên, để tính toán khối lượng đất thi công được chính xác nhất thì cần phải xác định chi tiết độ cao của một loạt các điểm thuộc mặt đất tự nhiên mà có thể không thuộc các đường đồng mức.

 


b. Mô phỏng thực địa


+ Trường hợp mặt bằng đơn giản


Trong trường hợp đơn giản nhất là trên bản đồ địa hình của vùng, các đường đồng mức gần như phẳng và đồng thời song song với nhau. Trong trường hợp này thì bạn dùng một mặt cắt duy nhất cắt vuông góc qua tất cả các đường đồng mức có thể thể hiện toàn bộ cao độ của tất cả các điểm mặt đất tự nhiên trên khu vực mặt phẳng được xét. Vì vậy, khối lượng đất cũng được tính đơn giản là việc tính toán khối lượng của từng thỏi đất chạy dài có tiết diện gần như không đổi. Đây được gọi là phương pháp xác định khối lượng theo mặt cắt.


+ Trường hợp mặt bằng tương đối phức tạp


Đó là các đường đồng mức có hơi uốn lượn nhưng vẫn tương đối song song. Khi đó, một mặt cắt không thể đại diện hết tất cả các cao độ của toàn bộ mặt bằng địa hình tự nhiên. Đối với trường hợp này bạn phải chia vùng mặt phẳng bằng quy hoạch thành lưới ô vuông, dọc theo phương của đường đồng mức, với khoảng cách các mắt lưới đủ nhỏ để có thể chia nhỏ các đường đồng mức thành từng đoạn tương đối thẳng liên tục và có độ dài bằng nhau. Khi đó coi gần đúng mặt đất trong mỗi ô lưới là một phẳng phẳng tạo bởi các độ cao mắt lưới. Các cao độ mắt lưới được xác định tương tự như cách tính đường đồng mức. Khối tích của từng ô đất được tính bằng tích số giữa cao độ trung bình của các mắt lưới ở 4 gốc ô với diện tích hình chiết bằng của ô lưới. Đây được gọi là phương pháp xác định khối lượng đất theo lưới ô vuông.


+ Trường hợp mặt bằng phức tạp


Là các đường đồng mức cong uốn lượn mà không song song với nhau, khoảng cách giữa chúng thay đổi liên tục tại mọi vị trí. Trường hợp này mạng lưới ô vuông không thể mô phỏng đúng hình dạng đại hình thực tế, vì trong mỗi ô đất tự nhiên phức tạp nếu quy về một mặt phẳng thì sai số là rất lớn. Vì vậy, để mô phỏng chính xác với địa hình phức tạp hơn, thì trong mỗi ô vuông mặt đất tự nhiên được quy gần đúng về 2 mặt phẳng nghiêng, có hình chiếu bằng là 2 nửa ô vuông, hình tam giác vuông, có chung cạnh huyền là đường chéo ô vuông. Chia lưới ô vuông theo đường chéo của ô, sao cho các đường chéo này song song nhất với phương của đường đồng mức gần đó nhất thì đảm bảo mô phỏng thực tế sẽ chính xác hơn. Khi đó, khối tích của từng ô đất tam giác được tính bằng tích số giữa cao độ trung bình của các mắt lưới ở 3 góc ô với diện tích hình chiếu bằng của ô lưới tam giác. Đây được gọi là phương pháp xác định khối lượng đất theo lưới ô tam giác.


c. Xác định mặt bằng thiết kế sau san


+ San theo điều kiện cân bằng đào đắp


Nếu san theo điều kiện cân bằng đào đắp (khối lượng đất ngoài V0 = 0): Khối lượng đất đào phải cân bằng với khối lượng đất đắp. Cũng có nghĩa là tổng khối lượng đất trên vùng mặt bằng quy hoạch, tính từ mặt thủy chuẩn trở lên, được phân bố lại trên cùng một diện tích hình chiếu bằng, với độ cao trung bình H0 so với mặt thủy chuẩn.


Nếu dùng phương pháp mặt cắt thì cao độ trung bình: H0=ΣSi/B (trong đó ΣSi là tổng diện tích tiết diện phía trên mặt thủy chuẩn, của mọi thỏi đất chạy dọc theo đường đồng mức trong vùng mặt bằng quy hoạch. Còn B là bề ngang của vùng quy hoạch (bề vuông góc với các đường đồng mức)).


+ San theo phương pháp lưới ô vuông hay lưới ô tam giác


Độ cao trung bình được tính bằng tỷ số giữa tổng khối tích của mọi ô lưới, tính từ mặt thủy chuẩn trở lên, với tổng diện tích hình chiếu bằng của vùng quy hoạch. Tổng khối tích của mọi ô lưới được tính qua các cao độ mắt lưới, tính từ mặt thủy chiếu.


Trường hợp lưới ô vuông: H0=(ΣH(1)j+2ΣH(2)j+4ΣH(4)j)/4m


Trong đó, H(1)j, H(2)j, H(3)j, H(4)j,..., H(6)j,..., H(8)j, là các cao độ tự nhiên tại mắt lưới ô vuông mà có 1, 2, 4 ô vuông quy tụ xung quanh, hay các cao độ tự nhiên tại mắt lưới ô tam giác mà có 1, 2, 3,...,6,...,8 ô tam giác quy tụ xung quanh. Với m là tổng số các ô vuông có trong vùng mặt bằng quy hoạch. Còn n là tổng số các ô tam giác có trong vùng mặt bằng quy hoạch.


+ San với điều kiện chừa đất ra sau san


Độ cao trung bình của mặt bằng san được tính bằng cao độ trung bình khi san cân bằng đào đắp có thêm hay bớt chênh lệch độ cao do lượng đất thêm vào hay bớt đi đem lại. Nếu khối lượng đất ngoài V0≠0 đã được xác định trước, thì khi đó cao độ trung bình H0 được tính theo công thức sau:


Trường hợp lưới ô vuông: H0=((ΣH(1)j+2ΣH(2)j+4ΣH(4)j)/4m)±(V0/(ma²))


Trường hợp lưới ô tam giác: H0=((ΣH(1)j+2ΣH(2)j+3ΣH(3)j+...+6ΣH(6)j+...+8 H(8)j)/3n)±(2V0/(na²)).


Trong đó, a là khoảng cách các mắt lưới (cạnh hình chiếu bằng của ô lưới).

d. Tính toán khối lượng công tác


Các phương pháp chia mạng ô vuông và mạng ô tam giác, khối lượng đất công tác được tính qua độ cao công tác ở vị trí các mắt ô lưới. Khi tính khối lượng công tác trên từng ô lưới, kể cả mạng ô vuông hay mạng ô tam giác, thì đều sẽ thấy rằng có 3 loại ô lưới:


+ Loại ô có tất cả các độ cao công tác tại mắt lưới dương hctj > 0, là loại ô nằm hoàn toàn trong vùng đào;


+ Loại ô có tất cả các độ cao công tác tại mắt lưới âm hctj < 0, là loại ô nằm hoàn toàn trong vùng đắp;


+ Loại ô chứa cả mắt lưới có cao độ công tác vừa âm vừa dương, có cả mắt lưới có hctj > 0 lẫn mắt lưới có hctj < 0, là loại ô nằm đè lên ranh giới đào đắp O-O (ranh giới đào đắp cắt qua những ô này).


Với hai loại ô nằm hoàn toàn trong vùng đào hay vùng đắp, thì khối lượng công tác, (được tính như nhau nhưng trái dấu: ô đào thì dương còn ô đắp thì âm), bằng tích số giữa độ cao trung bình của 3 (trường hợp ô tam giác) hay 4 (trường hợp ô vuông) độ cao công tác tại các mắt lưới ở góc ô nhân với diện tích hình chiếu bằng của ô lưới.


+ Mạng ô vuông: Vi = (hct1+hct2+hct3+hct4)a²/4


+ Mạng ô tam giác: Vi = (hct1+hct2+hct3)a²/6


Lê Hằng


Bài khác